Nội dung

Lĩnh vực

Đặt câu hỏi

Cá nhân/ Doanh nghiệp/ Tổ chức(*)

Email(*)

Số điện thoại

Địa chỉ

Lĩnh vực

Tiêu đề(*)

Nội dung(*)

Mã xác nhận(*)

     

Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Thông tư số 10/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ Xây dựng ban hành định mức xây dựng có hiệu lực thi hành từ ngày 15/2/2020. Trong quá trình triển khai thực hiện có một số vướng mắc như sau đề nghị được giải đáp:

1. Về nội dung định mức ván khuôn thép trong các kết cấu bê tông

Theo hồ sơ thiết kế thì ván khuôn rãnh bê tông xi măng đúc sẵn sử dụng cho công trình là 1.000m2. Đơn vị sử dụng mã hiệu AG.32511 thành phần công việc theo định mức bao gồm: Chuẩn bị, gia công, lắp dựng, tháo dỡ ván khuôn bảo đảm yêu cầu kỹ thuật của công tác đổ bê tông. Vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m.

Như vậy theo định mức công tác này thì được hiểu đây toàn bộ là quá trình sản xuất (gia công), lắp dựng, tháo dỡ ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật (đã bao gồm luân chuyển vật liệu). Khi áp dụng tính toán theo thiết kế thì có phải chiết giảm nhân hệ số k nhân công không (vì đã tính đầy đủ theo định mức 1.000m2 ván khuôn và nhân công là bao gồm công tác sản xuất (gia công)) vì hạng mục ván khuôn rãnh có thể thiết kế vài chục bộ và luân chuyển cho nhiều lần.

2. Các dự án giao thông thuộc khu vực miền núi đặc thù là đi qua nhiều vùng đá vôi, việc thi công nền đường có thể tận dụng đá cấp III nổ phá trên tuyến để thi công công trình như tận dụng đá hộc làm rọ đá, xây đá hộc khan, có thể đưa máy nghiền sàng đá vào để sản xuất các loại đá 1x2, 2x4, 4x6 để thi công móng nền đường, tuy nhiên hiện tại định mức của Bộ Xây dựng không có để áp dụng, việc không tận dụng đá nổ phá nền đường trên tuyến mà vận chuyển đổ đi rất khó khăn khi giải trình đơn vị thanh tra, kiểm toán.

3. Về hệ số chi phí chung đối với công trình giao thông thuộc vùng núi và hải đảo

Tại Bảng 3.7 Phụ lục số 3 Thông tư số 09/2019/TT-BXD phương pháp xác định dự toán chi phí xây dựng có quy định chi phí chung đối với công trình giao thông bằng 6,2-4,6% chi phí trực tiếp của từng loại, từng nhóm công trình (tỷ đồng) được điều chỉnh với hệ số từ 1,05 đến 1,1 tùy điều kiện cụ thể của công trình khi xây dựng tại vùng núi, biên giới, trên biển và hải đảo. Như vậy công trình được xây dựng trên địa bàn tỉnh Sơn La (bao gồm cả thành phố Sơn La) thì có được điều chỉnh với hệ số 1,05-1,1 như quy định đối với vùng núi hay không?

Đặng Thị Liễu (dlieulieu@gmail.com) -

Quản lý chất lượng xây dựng công trình

Đơn vị tôi đang thực hiện một dự án đầu tư (vốn ngân sách Nhà nước) cấp IV, nhóm C. Khi bắt đầu thi công, chúng tôi đã có thông báo khởi công gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng (Sở chuyên ngành). Để thực hiện nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào xây dựng, chúng tôi đã tập hợp hồ sơ quản lý chất lượng theo danh mục hồ sơ hoàn thành công trình tại Phụ lục VIB Nghị định số 06/2021/NĐ-CP gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp tỉnh để thực hiện công tác kiểm tra nghiệm thu. Trong quá trình kiểm tra, theo ý kiến của cơ quan chuyên môn về xây dựng yêu cầu phải tiến hành đo đạc các thông số kỹ thuật, kiểm tra thực tế công trình so với thiết kế được duyệt mới khẳng định được sự đúng đắn của hồ sơ.

Theo tôi tìm hiểu được biết tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 04/2019/TT-BXD ngày 16/8/2019 của Bộ Xây dựng có quy định “3a. Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP tổ chức kiểm tra các nội dung như sau:

a) Kiểm tra thực tế thi công xây dựng công trình so với giấy phép xây dựng đối với công trình phải cấp phép xây dựng, thiết kế xây dựng, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng, biện pháp thi công, chỉ dẫn kỹ thuật, biện pháp đảm bảo an toàn được phê duyệt;

b) Kiểm tra sự tuân thủ các quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình;

c) Kiểm tra sự tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư và các nhà thầu có liên quan trong khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng công trình;

d) Kiểm tra các điều kiện để nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng".

Đến nay theo quy định tại Khoản 4 Điều 24 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/1/2021 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 46/2015/NĐ-CP) đã bỏ nội dung “a)” nói trên, chỉ quy định nội dung kiểm tra của cơ quan chuyên môn về xây dựng là:

"a) Kiểm tra sự tuân thủ các quy định về công tác quản lý chất lượng, an toàn trong thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư và các nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan;

b) Kiểm tra các điều kiện nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào khai thác, sử dụng”.

Theo tôi hiểu, quá trình “Kiểm tra sự tuân thủ các quy định về công tác quản lý chất lượng” chỉ là kiểm tra xem các chủ thể tham gia thi công xây dựng có áp dụng đầy đủ, đúng các quy định, trình tự của pháp luật về công tác quản lý chất lượng trên cơ sở hồ sơ quản lý chất lượng do chủ đầu tư cung cấp theo danh mục yêu cầu.

Tôi xin hỏi:

1. Để kiểm tra công tác nghiệm thu, cơ quan chuyên môn về xây dựng có được yêu cầu đo đạc, kiểm tra thực tế thi công công trình so với thiết kế được duyệt không?

2. Các quy định về công tác quản lý chất lượng trong thi công xây dựng là các quy định nào? Để kiểm tra công tác nghiệm thu của chủ đầu tư, cơ quan chuyên môn về xây dựng cần kiểm tra những công tác gì?

Vũ Đình Nghiêm (hoangkimhy@gmail.com) -

Quản lý dự án xây dựng

Tôi đang làm ở một dự án ODA hỗn hợp (bao gồm cả hoạt động công trình lẫn phi công trình). Hiện nay, dự án phải điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi thuộc vốn đối ứng nhưng không làm tăng tổng mức đầu tư ( bổ sung chi phí về thuế từ nguồn chi QLDA). Trong QĐ dự án có phụ lục ghi rõ cơ cấu vốn đối ứng. Vậy cơ quan chủ quản quyết định điều chỉnh dự án hay chủ đầu tư vẫn được tự điều chỉnh và báo cáo người quyết định đầu tư

Thảo Nguyên (hongktdn@gmail.com) -

Hướng dẫn nội dung liên quan đến thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự toán chi phí chuẩn bị dự án

Hiện tại, có một số vướng mắc về công tác chuẩn bị đầu tư các dự án, liên quan đến sự sai khác giữa Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng.

Đó là công tác thẩm định, phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư. Theo đó:

1. Tại Khoản 5 Điều 40 Luật Đầu tư công quy định như sau:

“5. Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự toán nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch được quy định như sau:

a) Căn cứ nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch được cấp có thẩm quyền quyết định, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch lập dự toán nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch trình người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định;

b) Người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng thẩm định hoặc giao cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công tổ chức thẩm định dự toán nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch;

c) Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công thẩm định các nội dung dự toán theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức kinh phí nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch;

d) Căn cứ ý kiến thẩm định, chủ đầu tư hoàn chỉnh dự toán nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch để người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phê duyệt dự toán”.

=> Dự toán chuẩn bị đầu tư do Người đứng đầu Bộ (Người có thẩm quyền) tổ chức thẩm định, phê duyệt.

2. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 132 Luật Xây dựng:

“5. Chi phí đầu tư xây dựng của các dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công phải được xác định theo quy định về lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng”.

Theo đó, Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 9/2/2021 của Chính phủ về lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, quy định như sau (Khoản 2 Điều 10):

“2. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án hoặc chủ đầu tư (trong trường hợp đã xác định được chủ đầu tư) tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt dự toán chi phí chuẩn bị dự án (Trừ dự án quan trọng quốc gia và dự án thuê tư vấn nước ngoài)”.

=> Dự toán chuẩn bị đầu tư do chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt.

Được biết, thực hiện phân cấp, phân quyền, giảm thiểu thủ tục hành chính, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư, Chính phủ đã lựa chọn phương án giao chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản hướng dẫn chủ đầu tư, trong đó, yêu cầu chủ đầu tư tổ chức lập và gửi về Bộ để thẩm định, phê duyệt.

Vậy, việc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có văn bản hướng dẫn khác với quy định tại Nghị định số 10/2021/NĐ-CP có phù hợp quy định pháp luật hay không? Đồng thời, việc thẩm định phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư theo quy định nào thì đúng?

Phạm Ngọc (stockpnt@gmail.com) -

Công tác lập dự toán tại thành phố Hà Nội

Câu 1: a) Hiện nay, Hà Nội chưa ban hành bộ đơn giá sửa đổi theo định mức 10 năm 2019 của Bộ Xây dựng thì khi lập dự toán Công trình có được lập theo các bộ đơn giá trước đây không (798/2015/QĐ-UBND, 462/2014/QĐ-UBND, 6168/2012/QĐ-UBND, 5481/2011/QĐ-UBND…) ? b) Nếu phải lập theo Định mức 10 thì có đảm bảo về mặt pháp lý khi không có đơn giá gốc do UBND thành phố Hà Nội ban hành không? (có ý kiến cho rằng lập dự toán cần phải có bộ đơn giá gốc do UBND thành phố ban hành, từ đó mới điều chỉnh chênh lệch giá trị vật tư, nhân công, máy).

Câu 2: Thực tế tại thời điểm hiện nay, các vật tư cơ bản như cát, đá, xi măng, sắt thép, xây dựng có chênh lệch rất lớn so với công bố giá vật liệu xây dựng do Sở Xây dựng Hà Nội công bố theo quý, việc này Chủ đầu tư cần phải thực hiện như thế nào để điều chỉnh được cho phù hợp với thực tế? (Chủ đầu tư tự khảo sát, quyết định giá đầu vào hay phải làm công văn đề nghị Sở Xây dựng Hà Nội phê duyệt).

Công ty Xăng dầu Hà Sơn Bình (khanhnv.hsb@gmail.com) -

Chi phí thi tuyển phương án kiến trúc

Tôi đang tham gia vào tổ tư vấn thi tuyển kiến trúc công trình. Hiện nay, các chi phí liên quan đến công tác thi tuyển bao gồm: Chi phí tổ chức quản lý thực hiện công tác thi tuyển phương án kiến trúc; chi phí tư vấn thi tuyển phương án kiến trúc được xác định theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP và Thông tư số 16/2019/TT-BXD; riêng khoản mục chi phí khác phục vụ công tác thi tuyển phương án kiến trúc (gồm: Chi phí cho Hội đồng, Tổ kỹ thuật, các mức giải thưởng, hỗ trợ các phương án dự thi tuyển và các chi phí khác) thì chưa có nghị định hay thông tư nào hướng dẫn xác định các khoản chi phí này; nhất là chi phí giải thưởng. Tôi có tham khảo các cuộc thi kiến trúc khác thì mỗi cuộc thi có một mức giải thưởng và hỗ trợ khác nhau.

Vậy xin Quý cơ quan giải đáp câu hỏi của tôi như sau: Chi phí dành cho giải thưởng kiến trúc và hỗ trợ các phương án dự thi tuyển được xác định dựa trên cơ sở nào hay chỉ xác định dựa trên quy chế thi tuyển do cấp quyết định đầu tư phê duyệt?

Võ Trương Trung Tuyến (trungtuyenkts@gmail.com) -