Thông tin KHCN
 

Mô hình đại đô thị đơn cực (mega city), tức là một thành phố có diện tích cực lớn, dân số hàng triệu người, nhưng chỉ có một trung tâm đơn nhất đã trở nên lạc hậu, bởi hệ quả của đại đô thị rất nặng nề, chẳng hạn như quá tải cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, quá tải về dân số. Các quốc gia cố gắng tìm kiếm các mô hình phát triển khác nhau để phá bỏ tình trạng này như vùng đô thị, đô thị vệ tinh, đô thị đối trọng. 

 

Thủ đô Hà Nội có tốc độ gia tăng dân số rất nhanh, đặc biệt tại đô thị trung tâm, gây ra áp lực lớn đối với hạ tầng kỹ thuật và xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân. Việc xây dựng các đô thị vệ tinh (ĐTVT) với mục tiêu giảm tải dân số cho đô thị trung tâm, đồng thời tạo các cực tăng trưởng mới cho Thủ đô là một giải pháp được hoạch định trong Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm  nhìn đến năm 2050. Tuy nhiên, Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn, thách thức trong việc xây dựng các đô thị vệ tinh, tạo mối liên kết hài hòa giữa đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh.

 

1. Bối cảnh hình thành các đô thị vệ tinh Thủ đô Hà Nội

Trong quá trình phát triển từ sau hòa bình lập lại 1954, Hà Nội đã 4 lần điều chỉnh địa giới, 7 lần có quy hoạch chung được duyệt, đã có lần được định hướng phát triển theo mô hình “chùm đô thị” với đô thị trung tâm và đô thị đối trọng. 

 

1. Quan điểm phát triển đô thị thế giới

Phát triển đô thị hiện đại nhiều năm qua hướng tới và hoàn thiện nhiều khía cạnh phát triển ngày càng bền vững hơn. Tại một số quốc gia phát triển (khối Bắc Âu) đã đúc rút bốn lĩnh vực trọng tâm về (1) xã hội bền vững, (2) sinh thái bền vững, (3) kinh tế bền vững, (4) tổ chức đô thị bền vững. Về xã hội, các dự án đô thị luôn tìm kiếm giải pháp cung cấp cho người dân được cảm thấy mình thuộc về nơi chốn ấy, luôn an toàn, gắn kết hòa hợp với môi trường thiên nhiên xung quanh, hướng tới sức khỏe con người. Về sinh thái, phát triển bền vững quan tâm bảo đảm nguồn tài nguyên được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bảo tồn; đồng thời; hạn chế yếu tố ngoại lai gây ảnh hưởng tiêu cực. Kinh tế bền vững đặt mục tiêu phát triển kinh tế nội địa phân tách nhằm phát huy nội lực để làm cơ sở mở rộng kết nối giao thương quốc tế thu hút ngoại lực. Tổ chức đô thị bền vững đưa ra các chính sách khuyến khích mọi thành phần xã hội tham gia vào quá trình xây dựng thành phố. Qua đó người dân có thêm cơ hội chia sẻ những trải nghiệm phong phú để từ đó kiến tạo lối tư duy mới, cộng đồng dễ dàng tiếp cận chính quyền nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại. 

 

1. Đặt vấn đề

Vào giữa thế kỷ XVII, khái niệm “risk/rủi ro” lần đầu tiên xuất hiện ở Vương Quốc Anh với nghĩa được hiểu là sự không chắc chắn có thể xuất hiện trong các kế hoạch hay dự định ban đầu, dẫn đến khả năng xuất hiện một số điều đó có tác động (tích cực hay tiêu cực) tới các khía cạnh của quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Trong lĩnh vực xây dựng, rủi ro được nghiên cứu muộn hơn so với các ngành kinh tế, sản xuất khác. Tổng kết từ nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, khái niệm về quản lý rủi ro có thể được định nghĩa như sau: “Quản lý rủi ro là một quá trình xác định, đánh giá và xếp hạng các rủi ro có thể xảy ra mà qua đó thì các biện pháp hữu hiệu và nguồn tài nguyên cần thiết được lựa chọn và áp dụng vào thực tế để hạn chế, theo dõi và kiểm soát các khả năng xuất hiện và/hoặc các tác động của các sự kiện không dự báo trước”. 

 

1. Đặt vấn đề

Quy hoạch chung đô thị nói chung và quy hoạch phát triển nhà chung cư, nhà cao tầng nói riêng là mục tiêu mà các đô thị lớn ở nước ta cần hướng đến trong tương lai. Trong đó, việc xây dựng mới các khu chung cư, nhà cao tầng là một trong những nội dung quan trọng mà chính quyền cần tập trung thực hiện nhằm giải quyết vấn đề bùng nổ dân số ở các đô thị lớn như hệ thống nhà ở đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và chất lượng sống cư dân đô thị đó. 

 

Trong những năm qua, ngành sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) đã có nhiều đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Đến nay, ngành VLXD đã chuyển sang giai đoạn phát triển bền vững, có quy hoạch, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, năng lượng và bảo vệ môi trường, phát triển công nghệ theo hướng hiện đại hóa, sản xuất xanh. 

 

Đặt vấn đề

Theo báo cáo của Viện Kinh tế xây dựng về tổng kết kinh nghiệm quốc tế về vai trò quản lý nhà nước đối với chi phí đầu tư xây dựng và lựa chọn của Việt Nam cho thấy trên thế giới hiện nay đang có 3 mô hình quản lý nhà nước đối với chi phí đầu tư xây dựng, đó là (1) Mô hình nhà nước quản lý chi phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn công một cách gián tiếp (2) Mô hình nhà nước trực tiếp quản lý chi phí các dự án sử dụng vốn công (3) Mô hình quản lý chi phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn Nhà nước theo mô hình phân cấp tới cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh (mô hình của Trung Quốc). Ở các mô hình này đều có sử dụng hệ thống công cụ xác thực chi phí do các tổ chức tư vấn, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu có uy tín biên soạn cung cấp thông tin. Một trong những công cụ được các tổ chức này biên soạn và bổ sung, điều chỉnh hàng năm là chỉ tiêu chi phí xây dựng tổng hợp. Ví dụ như nước Úc trước đây gọi là “chi phí chuẩn” hay gần đây gọi là “chi phí công trình” được nhiều đơn vị công bố trong đó có công ty Rider Levett Bucknall, tổ chức tư vấn thuế BMT… Tại Mỹ và một số nước Châu Á sử dụng tên gọi là “chi phí xây dựng” do Cơ quan thống kê Hoa Kỳ, tổ chức RSMeans biên soạn và phát hành ở Mỹ, công ty Arcadis biên soạn và phát hành đối với khu vực Châu Á; Ở Anh cũng gọi là “chi phí xây dựng” nhưng được biên soạn theo đơn vị tính phù hợp với đối tượng sử dụng khác nhau như “giá công trình theo đơn vị chức năng”, “giá công trình theo 1 mét vuông” do Công ty AECOM biên soạn và phát hành. Cụ thể nội dung tìm hiểu như sau:

 

1. Đặt vấn đề

Đặc thù của công trình xây dựng là có tính cá biệt, có quy mô lớn, được hình thành từ nhiều bộ phận, kết cấu khác nhau. Quá trình hình thành công trình xây dựng lại kéo dài, trải qua nhiều giai đoạn từ khâu lập dự án đầu  tư, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công đến khâu thi công xây dựng công trình. Đây cũng là quá trình hình thành nên giá trị công trình. Vì vậy việc tính toán, định giá cho các sản phẩm, dịch vụ xây dựng là một quá trình phức tạp do các sản phẩm, dịch vụ này là kết quả của một chuỗi các hoạt động xây dựng có liên quan với nhau được thực hiện trong một thời gian tương đối dài và chịu tác động bởi các biến động trên thị trường. 

 

1. Giới thiệu chung

Theo báo cáo đánh giá về thực trạng chất lượng nhân lực ngành xây dựng của Tổng hội xây dựng, cả nước có khoảng gần 78.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng với khoảng 4 triệu lao động. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực ngành xây dựng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường. Trình độ lao động làm việc trong các lĩnh vực ngành xây dựng nói chung và trên các công trường còn nhiều hạn chế; nhiều lao động chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 14% lực lượng lao động làm việc trong toàn ngành xây dựng. Tình trạng phổ biến hiện nay tại các công trường là đa số người lao động theo nghề xây dựng một cách ngẫu nhiên, nhiều người thợ đi lên bằng con đường học và thường bắt đầu bằng công việc lao động phổ thông, nhiều người xuất thân từ lao động nông nghiệp, thời gian nông nhàn xin vào làm việc tại các công trường xây dựng. Thực trạng này là một nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động thấp, chậm tiến độ, sản phảm còn nhiều sai sót, làm giảm sức cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa, hạn chế về năng lực khi tham gia thị trường quốc tế.

    Trang   ‹‹ Trước 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp ››

LIÊN KẾT WEBSITE